|
LỊCH SỬ KẾT TẬP
TAM TẠNG KINH ĐIỂN |
|
Tác Giả: Bình Anson |
|
|
Trong
45 năm truyền giảng con đường giải thoát, Đức Phật thu nhận rất
nhiều đệ tử, có người xuất gia theo ngài và lập thành Tăng đoàn
(Sangha), có người cũng còn tại gia, gọi là các cư sĩ. Vùng
truyền giáo của ngài là vùng Đông Bắc Ấn Độ giáp biên giới xứ
Nepal, dọc theo các nhánh sông thượng nguồn sông Gange (Hằng hà)
[1, 2, 3].
Ngài thường được gọi là Đức Phật
Cồ Đàm (Buddha Gotama). Chữ "Phật" là tiếng gọi tắt của "Phật Đà",
phiên âm từ chữ Phạn "Buddha" - người bình dân Việt Nam có nơi
gọi là ông Bụt - nghĩa là người đã giác ngộ (Giác Giả) . Trong
các kinh sách ghi lại, ngài thường tự gọi mình là Tagatatha (Như
Lai). Ngài có rất nhiều đệ tử từ các quốc gia trong vùng, gồm đủ
mọi thành phần trong xã hội, lứa tuổi, nam nữ, và từ nhiều nguồn
gốc tín ngưỡng khác nhau.
Đức Phật đã để lại một kho tàng
quí giá gồm nhiều bài thuyết giảng (Kinh, Sutta), thường được
gọi tổng quát là "tám vạn bốn ngàn" pháp môn, trong nhiều dịp
giảng dạy cho hàng đệ tử, bậc thánh thanh văn, cư sĩ, ... Với sự
phát triển và bành trướng của Tăng đoàn, Ngài đặt ra nhiều giới
luật để tạo điều kiện thuận lợi trong công tác tu tập (Vinaya,
Giới). Ngoài ra còn nhiều bài giảng đặc biệt khác mà về sau nầy
được đúc kết lại trong bộ A Tỳ Đàm (Abhidhamma).
Kết Tập Đầu
Tiên
Ba tháng sau khi Đức Phật tịch
diệt, một đại hội các vị tu sĩ (Tỳ khưu, Bhikkhu) được tổ chức,
ngày nay được gọi là Đại Hội Tăng Già I, tại vùng đồi núi ngoại
thành Rajagaha (Vương Xá). Mục đích là để kết tập các bài kinh
giảng và các điều luật thành một hệ thống chặt chẻ hơn [4]. Chủ
trì phần Luật là Tỳ khưu Upali (Ưu Ba Ly), và chủ trì phần Kinh
là Tỳ khưu Ananda (A Nan Đà), là người cận sự với Đức Phật và vì
thế có nhiều dịp nhất để nghe và ghi nhớ các bài giảng của Ngài.
Đại hội gồm khoảng 500 vị cao tăng duyệt lại các giới luật và
các bài thuyết pháp, sắp xếp thành hai nhóm chính: Luật Tạng và
Kinh Tạng. Qua những thu thập lúc đó, Kinh Tạng được phân chia
làm 4 Bộ chính: Trường bộ, Trung bộ, Tương ưng bộ, và Tăng Chi
bộ.
Kết Tập Lần
Thứ 2
Trong 45 năm hoằng dương đạo
pháp, Đức Phật đã đi nhiều nơi, giảng đạo cho nhiều người và kết
nạp nhiều đệ tử. Các đệ tử của Ngài ở rải rác khắp nơi, không
thể nào cùng về tham dự Đại hội đầu tiên. Do đó có thể có một số
bài thuyết giảng và giới luật phụ do Đức Phật đặt ra đã không
được kết tập trong kỳ Đại hội đó [4].
Vì vậy mà khoảng 100 năm sau,
năm 383 trước CN, một đại hội kết tập kinh điển được tổ chức,
theo yêu cầu của tăng chúng thành Vesali và Vajji [5]. Sau lần
kết tập nầy, Luật Tạng được mở rộng với các giới luật mà các đại
biểu cho rằng đã không được kết tập trong kỳ Đại Hội I, và một
số các bài kinh giảng khác chưa kết tập, tạo thành một bộ kinh
thứ 5 của Kinh Tạng (Tiểu Bộ).
Sau lần kết tập nầy, Luật Tạng
và Kinh Tạng xem như đã thành hình, và các bài giảng có lẽ cũng
giống như bài giảng mà chúng ta có được trong bộ Đại Tạng hiện
nay [4].
Kết Tập Lần
Thứ 3
Một trăm ba mươi năm sau đó, năm
253 trước CN, vua Asoka (A Dục) của Ấn Độ cho triệu tập Đại hội
lần thứ III. Tiểu Bộ của Kinh Tạng lại được mở rộng và kết tập
thêm nhiều bài kinh giảng khác. Quan trọng hơn hết là việc Đại
hội đã đúc kết các bài giảng về tâm lý, thể tính và sự tướng của
vạn pháp, tạo thành Thắng Pháp Tạng (Abhidhamma, A Tỳ Đàm, Vi
Diệu Pháp, Luận Tạng).
Kết Tập Lần
Thứ 4
Khoảng năm 20 trước CN, 500 năm
sau ngày Phật nhập Đại Niết Bàn, vua Vattagamani của Tích Lan
(Sri Lanka) triệu tập Đại Hội Tăng Già IV tại Aluhivihara -- gần
thành phố Kandy ngày nay [1], kết tập lại các phần Kinh, Luật,
và đúc kết phần Thắng Pháp Tạng [6]. Để gìn giữ các bài giảng
của Đức Phật dù đã kết tập nhưng chỉ truyền khẩu trong 500 năm
qua, ba tạng kinh điển được cho viết lại trên một loại giấy bằng
lá bối-đa khô [4, 10]. Từ đó Tam Tạng Pali được thành hình, và
không còn thay đổi nào khác.
Trong thời kỳ gần đây, Miến Điện
có tổ chức hai kỳ kết tập khác: kết tập lần thứ V, năm 1870, và
lần thứ VI, năm 1954. Tuy nhiên các kỳ kết tập nầy chỉ để làm
sáng tỏ các điểm chính trong kinh, nhưng không thay đổi gì trong
bộ Tam Tạng [5].
Tam Tạng
Kinh Điển
Tạng hay Tàng là giỏ chứa,
chổ chứa, tiếng Pali gọi là Pitaka. Ngày xưa tại các chùa lớn
thường có một thư viện gọi là "Tàng Kinh Các" để lưu trữ các bộ
kinh quí. Tam Tạng theo tiếng Pali gọi là Tipitaka, Ba Giỏ Chứa
(The Three Baskets), gồm có Luật Tạng (Vinaya Pitaka), Kinh Tạng
(Sutta Pitaka), và Thắng Pháp Tạng (Abhidhamma Pitaka, còn gọi
là Vi Diệu Pháp, hay Luận Tạng). Sau đây là sơ lược về các tạng
nầy:
1. Luật Tạng
(Vinaya Pitaka)
Tạng nầy bao gồm các giới luật
và nghi lễ cho nam tu sĩ (Bhikkhu, Tỳ khưu) và nữ tu sĩ (Bhikkhuni,
Tỳ khưu ni), cách thức gia nhập tăng đoàn, truyền giới luật,
sinh hoạt tăng chúng, cách hành xử trong các trường hợp vi phạm
giới luật, vv. Tạng nầy thường được chia làm 5 bộ [1, 7]:
1. Ba-la-di (Parajika),
2. Ba-dật-đề (Pacittiya),
3. Đại Phẩm (Mahavagga),
4. Tiểu Phẩm (Cullavagga), và
5. Toát Yếu (Parivara).
2. Kinh Tạng
(Sutta Pitaka)
Gồm 5 bộ chính (Nikaya): Trường
Bộ (Digha Nikaya), Trung Bộ (Majjhima Nikaya), Tương Ưng Bộ (Samyutta
Nikaya), Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikaya), và Tiểu Bộ (Khuddaka
Nikaya). Trong hệ Sanskrit (Bắc Phạn), các bộ nầy được gọi là
các bộ A Hàm (Agamas). Tuy nhiên, các bộ A Hàm nguyên thủy đã bị
thất lạc và chỉ còn tìm thấy các bản kinh tiếng Sanskrit rời rạc,
mà hiện nay chỉ còn các bộ Hán dịch từ nhiều nguồn gốc bộ phái
và qua nhiều đời khác nhau [6].
Trường Bộ là tập
hợp các bài kinh dài, gồm 34 bài kinh, đã được dịch sang Việt
ngữ, trong đó có hai quyển phổ thông nhất: Kinh Đại Bát Niết Bàn
(Maha Parinibanna Sutta) và Kinh Đại Quán Niệm (Maha Satipattana
Sutta). Ngoài các bài thuyết giảng của Đức Phật, Bộ nầy cũng có
các bài giảng của Đại Đức Sariputta (Xá Lợi Phất), vị đệ tử hàng
đầu có tài thuyết giảng hùng biện nhất thời đó, và các vị đệ tử
nỗi tiếng khác.
Trung Bộ gồm có
152 bài kinh sắp xếp trong 15 phẩm, theo từng chủ đề. Bộ kinh
nầy rất phổ thông trong giới Phật tử sử dụng Anh ngữ và cũng đã
được dịch sang Việt ngữ. Bản dịch Anh ngữ được hiệu chỉnh nhiều
lần, và bản dịch mới nhất đã được hội Buddhist Publication
Society, Tích Lan, xuất bản năm 1995. Các bài kinh quan trọng
thường có liên quan đến phép hành thiền quán niệm (Satipattana
Sutta), chính kiến (Sammaditthi), cách tịnh tâm (Kakacupama),
cuộc đời Đức Phật (Ariyaparyesana), tứ diệu đế (Mahahatthipadopama),
không tính (Culasunnata), quán niệm hơi thở (Anapanasati), vv...
Có thể nói đây là một bộ kinh quan trọng nhất, bao gồm các bài
giảng thiết yếu trên đường tu tập, thực hành lời Phật dạy.
Tương Ưng Bộ gồm
2,889 bài kinh ngắn, chia làm 5 chương và 56 phẩm. Đây là tập
hợp các bài kinh có chủ đề giống nhau về một điểm thảo luận,
hoặc về một nhân vật nào đó trong thời Đức Phật. Có những bài
giảng quan trọng về 12 nhân duyên và về 37 phần bồ đề (37 phẩm
trợ đạo).
Tăng Chi Bộ là bộ
kinh dựa theo cách sắp xếp số học (pháp số), từ các chủ đề có
liên quan đến 1 phần tử, 1 yếu tố, dần dần lên đến các chủ đề có
11 phần tử hay yếu tố. Vì vậy, bộ kinh được chia làm 11 chương,
gồm 2,308 bài kinh.
Tiểu Bộ thật ra
không phải là bộ sách nhỏ, mà là tập hợp 15 bộ sách nhỏ:
-
Tiểu Tụng, Khuddaka Patha
-
Pháp Cú, Dhammapada
-
Phật Tự Thuyết, Udana
-
Như Thị Ngữ (Phật Thuyết
Như Vậy), Itivuttaka
-
Kinh Tập, Sutta Nipata
-
Thiên Cung Sự, Vimana
Vatthu
-
Ngạ Quỷ Sự, Peta Vatthu
-
Trưởng Lão Tăng Kệ,
Theragatha
-
Trưởng Lão Ni Kệ,
Therigatha
-
Bổn Sanh, Jataka
-
Nghĩa Thích, Niddesa
-
Vô Ngại Giải Đạo,
Patisambhidamagga
-
Thí Dụ, Apadana
-
Phật Sử, Buddhavamsa
-
Sở Hạnh Tạng, Cariya Pitaka
3. Thắng Pháp
Tạng (Abhidhamma Pitaka)
Còn gọi là Vi Diệu Pháp hay Luận
Tạng, đây là tập hợp các bài giảng của Đức Phật về thể tính và
sự tướng của vạn pháp, phân giải triết học và tâm lý học. Thắng
Pháp Tạng gồm có 7 quyển:
1. Pháp tụ (Dhammasangani)
2. Phân biệt (Vibhanga)
3. Giới thuyết (Dhatukatha)
4. Nhân thi thiết (Puggala Pannatti)
5. Biện giải (Kathavathu)
6. Song luận (Yamaka)
7. Nhân duyên thuyết (Patthana).
4. Các
thánh điển trọng yếu khác:
Ngoài Tam Tạng Kinh Điển còn có
các bộ Chú Giải và Phụ Chú Giải Kinh Điển, và một số các tác
phẩm Pali quan trọng khác cũng được học tập và lưu truyền cho
đến ngày nay:
Đảo sử (Dipavamsa)
Đại sử (Mahavamsa)
Tiểu sử (Culavamsa)
Mi Lan Đa vấn đạo (Milindapanha)
Thanh tịnh đạo luận (Visuddhi Magga)
Thắng pháp tập yếu luận (Abhidhammattha Sanghaha)
Đại Tạng
Việt Ngữ
Mặc dù Phật Giáo là một tôn giáo
lớn ở Việt Nam và đã có mặt lâu đời tại đất nước ta trên 18 thế
kỷ, cho đến nay chúng ta vẫn chưa có một bộ Tam Tạng đầy đủ bằng
chữ Việt. Điều nầy đã được ghi nhận từ đầu thập niên 1950 [5],
mà đã 40 năm qua, công tác dịch thuật vẫn chưa hoàn tất. Thật ra,
công trình dịch thuật sang chữ quốc ngữ từ các kinh điển Hán
tạng bắt đầu trong thập niên 1930 với nhiều vị danh tăng và học
giả trong các phong trào phục hưng Phật Giáo và chấn hưng Phật
học [11].
Một chương trình phiên dịch và
ấn hành Đại Tạng Kinh Việt Nam đã được tiến hành trở lại từ năm
1989, dựa trên các bộ chữ Pali và chữ Hán. Đến nay (1998), Viện
Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam đã phát hành Trường Bộ (và Trường A
Hàm), Trung Bộ (và Trung A Hàm), Tương Ưng Bộ (và Tạp A Hàm),
Tăng Chi Bộ (và Tăng Nhất A Hàm) bằng Việt ngữ, cùng với các
quyển trong Tiểu Bộ: Kinh Tập, Pháp Cú, Như Thị Ngữ, Phật Tự
Thuyết, Trưởng Lão tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ, Bổn Sanh, v.v.
Hệ phái Nguyên Thủy (Nam Tông)
Việt Nam đã ấn hành các bộ Vi Diệu Pháp do Hòa thượng Tịnh Sự
dịch. Bộ Luật cơ bản đã được dịch từ các bản chữ Hán (Luật Tứ
Phần Giới Bổn Như Thích, HT Hành Trụ dịch). Các quyển Thanh Tịnh
Đạo (Ni sư Trí Hải dịch), Thắng Pháp Tập Yếu Luận (HT Minh Châu
dịch) và Mi Lan Đa Vấn Đạo (Mi Tiên Vấn Đáp, HT Giới Nghiêm dịch)
cũng đã được xuất bản trong những năm gần đây. Thêm vào đó, vào
cuối năm 2005, Tỳ khưu Indacanda đã hoàn tất công tác dịch thuật
toàn bộ Tạng Luật từ nguồn Pali.
-oOo-
Ghi chú: Toàn bộ
kinh điển Pali ngữ và bản dịch Anh ngữ đã được Hội Kinh Điển Pali (Pali
Text Society) lần lượt
xuất bản trong 100 năm qua. Xin xem bài giới
thiệu bằng Anh ngữ tại:
http://zencomp.com/greatwisdom/ebud/ebsut028.htm
Tham Khảo
[1] Narada Mahathera (1980), The
Buddha and His Teachings, Buddhist Publication Society, Sri
Lanka (Đức Phật và Phật Pháp, bản dịch Việt ngữ của Phạm Kim
Khánh)
[2] Thích Nhất Hạnh (1992), Đường Xưa Mây Trắng, Lá Bối, France
[3] Sister Vijira and Francis Story (1988), The Maha Parinibbana
Sutta, Buddhist Publication Society, Sri Lanka
[4] Bodhesako (1984), Beginnings: The Pali Suttas, Buddhist
Publication Society, Sri Lanka
[5] Thích Đức Nhuận (1983), Phật Học Tinh Hoa, Phật Học Viện
Quốc Tế, USA
[6] Christmas Humprhey (1962), Buddhism, Penguin Books, UK
[7] Russell Webb (1991), An Analysis of The Pali Canon, Buddhist
Publication Society, Sri Lanka
[8] Thích Chơn Thiện (1991), Tăng Già Thời Đức Phật, Viện Nghiên
Cứu Phật Học Việt Nam, Vietnam
[9] Phạm Kim Khánh (1997), Hành Hương Xứ Phật, Trung Tâm Narada,
Seatle, USA
[10] H.W. Schuman, The Historical Buddha (Đức Phật Lịch Sử, bản
dịch Việt ngữ của Trần Phương Lan, Viện Nghiên Cứu Phật Học, Sài
Gòn, 1997).
[11] Nguyễn Lang (1985), Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Tập 3, Lá
Bối, France.
Bình Anson,
Mùa Phật Đản 1995, Perth, Western Australia
Bổ sung: tháng 4-2006
Kinh
Điển Đại Thừa (Mahayana, Bắc Tông)
Kinh
điển Đại Thừa xuất hiện về sau nầy, vào khoảng đầu Công nguyên (CN)
-- 300 đến 700 năm sau ngày Phật nhập Đại Niết bàn, không rõ nguồn
gốc xuất xứ với nhiều giả thuyết khác nhau, không biết do ai kết tập
vào thời kỳ nào, ban đầu là vài bộ kinh ngắn rồi dần dà xuất hiện
các bộ lớn hơn với văn phong không đồng nhất, và ngày nay cũng không
còn nguyên bản trọn vẹn. Một số đã được dịch sang chữ Hán và chữ Tây
Tạng qua nhiều thời kỳ khác nhau bởi nhiều dịch giả thuộc những tông
phái khác nhau, và được lưu truyền đến ngày nay. Một số kinh điển
Hán tự khác thì lại không có nguồn gốc rõ ràng, mặc dù lấy danh là
lời Phật dạy nhưng có lẽ đã được trước tác tại Trung Hoa trong thời
kỳ Phật giáo mới được phát triển tại đó.
Kinh điển Đại Thừa là
một tập hợp các bài giảng của Đức Phật, các luận giải của tăng sĩ,
và ngữ lục của các tổ sư. Ngoài tạng Luật -- trên
cơ bản rất tương tự với tạng Luật Pali, còn có tạng Kinh
gồm có các bộ A Hàm -- dịch thuật từ nhiều nguồn khác nhau -- và các
kinh điển mới, và tạng Luận gồm các tác phẩm chú
giải và luận thuyết của các vị tăng sĩ Đại thừa về sau nầy. Có thể
nói tính đa dạng và phong phú của kinh điển Đại thừa là kết quả của
một sự dung nạp hỗn độn, không có hệ thống và tiêu chuẩn rõ ràng,
các tài liệu về Phật giáo -- hoặc có vẻ mang tính cách Phật giáo
nhưng lại pha trộn các giáo thuyết khác -- xuất hiện rãi rác trong
các thế kỷ đầu Công nguyên trong thời kỳ hình thành tông phái nầy.
Dưới đây là liệt kê sơ lược danh
sácAh kinh điển Phật Giáo Đại Thừa [a,b]:
1. Trước
thời Long Thọ (Nagarjuna, sơ tổ của Đại thừa Phật giáo, thế kỷ III
CN):
Kinh Đại phẩm Bát Nhã
Kinh Tiểu phẩm Bát Nhã
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Kinh Hoa Nghiêm
Kinh Đại Vô Lượng Thọ
Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội
Kinh Duy Ma Cật
Trước tác của Ngài Mã Minh
(Asvaghosa, đầu Công nguyên):
Phật sở hạnh tán
Đại Trang Nghiêm luận
Thập Bất thiện nghiệp đạo
Lục thú luân hồi
Sự sư pháp Ngũ thập tụng
Ni Kiền Tử vấn vô ngã nghĩa
Đại tôn địa huyền văn bản luận
Đại Thừa khởi tín luận
2. Thời Long
Thọ (Nagarjuna), Đề Bà (Deva), Bạt Đà La (Bhadra):
2.1 Ngài Long Thọ trước tác
nhiều bộ luận, nhưng dịch sang Hán gồm:
Trung quán luận
Bồ đề tâm ly tướng luận
Thập nhị môn luận
Hồi tránh luận
Đại trí độ luận
Phương tiện tâm luận
Thập trụ Tỳ Bà Sa luận
Khuyến phát chư vương yếu kệ
Thập bát Không luận
Tán pháp giới tụng
Đại thừa phá hữu luận
Quảng đại phát nguyện tụng
Bồ đề tư lương luận
2.2 Ngài Đề Bà trước tác:
Bách luận
Bách tự luận
Quảng bách luận
2.3 Ngài Bạt Đà La trước tác:
Chú thích Trung luận
3. Sau thời
Long Thọ:
Kinh Thắng Man
Kinh Giải Thâm Mật
Kinh Đại Bát Niết Bàn (Đại thừa Niết Bàn)
Kinh Lăng Già
4. Thời Vô
Trước (Asanga, thế kỷ IV-V CN):
4.1 Trước tác của Ngài Di Lặc (Maitreya):
Du Già Sư Địa luận
Đại Thừa Trang nghiêm kinh luận
Thập địa kinh luận
Trung biên phân biệt luận
4.2 Trước tác của Ngài Vô Trước
(Asanga):
Hiển dương Thánh giáo luận
Kim Cang Bát nhã Ba la mật đa kinh luận
Nhiếp Đại thừa luận
Thuận Trung luận
Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma tạp luận
4.3 Trước tác của Ngài Thế Thân
(Vasubandhu) thì rất nhiều, nhưng các bộ sau đây đã dịch sang
Hán:
A Tỳ Đạt Ma Câu Xá luận
Nhiếp Đại Thừa luận thích
A Tỳ Đạt Ma Câu Xá bản tụng
Thập địa kinh luận
Duy thức Tam thập tụng
Diệu Pháp Liên Hoa kinh Ưu Bà Đề Xá
Duy thức Nhị thập tụng
Vô Lượng Thọ kinh Ưu Bà Đề Xá
Đại Thừa Bách pháp Minh môn luận
Chuyển Pháp luân Ưu Bà Đề Xá
Đại Thừa Ngũ uẩn luận
Kim Cương Bái nhã Ba la mật kinh luận
Phật tính luận
Lục môn giáo thọ tập định luận
|