| CHƯ A LA HÁN | |
| 12. NA GÌA TÊ NA | |
| Tiếng Sancrit: NÀGASENA | |
| Tác Gỉa: Thích Hằng Đạt | |
| Nguồn: Vạn Phật Đảnh | |
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | |
|
12. Na Già
Tê Na (S: Nàgasena):
Na Tiên hay Long Quân: A La Hán Ngoái Tai: vị tôn giả này cùng với 1200 vị
A-la-hán, phần lớn cư trú tại núi Bán Ðộ Ba.
Ngài sống vào cuối thế kỷ thứ hai trước Tây lịc. Ngài sanh vào dòng Bà La Môn ở thôn Yết
Đăng Yết La (Kajangala) miền Trung Ấn. Ban đầu, Ngài theo học giáo nghĩa Phệ
Đà, nhưng cảm nhận sâu sắc rằng rất ít thấy những điều thiện trong giáo
nghĩa Bà La Môn, nên đến cầu học với tôn giả Lâu Hán (Rohana), rồi
xuất gia, tu học luận tạng và 7 bộ A Tỳ Đàm, |
|
chứng quả A La Hán. Ngài đến xứ Xá Kiệt (Sagala), trụ trì chùa Tiết Để Ca, nghị luận với vua Hy Lạp Di Lan Đà (Milinda), bằng cách dùng sự quan hệ giữa xe và trục xe, vành xe, căm xe, v.v… làm ví dụ để nói rộng về Phật pháp, như nhân sanh vô thường, và báo ứng lành xấu, khiến nhà vua tin phục, quy y Tam Bảo. Những lời vấn đáp giữa Ngài và vị vua Hy Lạp đó được ghi lại trong kinh Na Tiên Tỳ Kheo. Ngài được vẽ với hình dáng ngoái tai, biểu hiện cho sự tịnh hóa nhĩ căn. |
|
| Trở Về Trang Mục Lục | Trang Kế | |